ROZACO lại ra những siểu phẩm phục vụ anh em tại Huyện Phụng Hiệp Tỉnh Hậu Giang

     

Địa lý
Huyện Phụng Hiệp là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Hậu Giang, có vị trí địa lý:

Phía đông giáp thành phố Ngã Bảy
Phía đông nam giáp các huyện Châu Thành, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Phía tây giáp huyện Vị Thủy và thị xã Long Mỹ
Phía nam giáp huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng
Phía bắc giáp huyện Châu Thành A
Phía đông bắc giáp huyện Châu Thành.
Theo thống kê năm 2019, huyện có diện tích 484,51 km², dân số là 195.355 người, mật độ dân số đạt 388 người/km².[2]. Đây là huyện có dân số đông nhất tỉnh.

Hành chính
Huyện Phụng Hiệp có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: Cây Dương (huyện lỵ), Búng Tàu, Kinh Cùng và 12 xã: Bình Thành, Hiệp Hưng, Hòa An, Hòa Mỹ, Long Thạnh, Phụng Hiệp, Phương Bình, Phương Phú, Tân Bình, Tân Long, Tân Phước Hưng, Thạnh Hòa với 128 ấp.

Lịch sử
Thời Pháp thuộc
Nguồn gốc
Ban đầu, địa danh Phụng Hiệp chỉ là tên một làng thuộc tổng Định Phước, tỉnh Cần Thơ. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Phụng Hiệp do lấy theo tên gọi làng Phụng Hiệp vốn là nơi đặt quận lỵ.[4]

       

Cập nhật những mẫu áo đấu không logo đẹp nhất tại Quận Cái Răng Thành phố Cần Thơ

   

Địa lý

Chợ nổi Cái Răng
Quận Cái Răng nằm ở phía nam thành phố Cần Thơ, có vị trí địa lý:

Phía đông giáp thị xã Bình Minh và huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long qua sông Hậu
Phía tây giáp huyện Phong Điền
Phía nam giáp các huyện Châu Thành và Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
Phía bắc giáp quận Ninh Kiều, ranh giới là sông Cần Thơ.
Quận Cái Răng có diện tích 62,53 km², dân số năm 2019 là 105.393 người, mật độ dân số đạt 1.685 người/km².[1]. Đây là quận có dân số ít nhất thành phố.

Hành chính
Quận Cái Răng có 7 phường bao gồm: Ba Láng, Hưng Phú, Hưng Thạnh, Lê Bình, Phú Thứ, Tân Phú, Thường Thạnh.

Chợ Cái Răng (còn gọi là chợ Lê Bình) bên sông Cần Thơ
Ðơn vị hành chính cấp xã Phường
Ba Láng Phường
Hưng Phú Phường
Hưng Thạnh Phường
Lê Bình Phường
Phú Thứ Phường
Tân Phú Phường
Thường Thạnh
Diện tích (km²) 5,32 7,67 8,67 2,46 20,63 8,07 10,36
Dân số (2015) (người) 10.078 22.015 18.361 17.088 20.344 9.089 20.253
Mật độ dân số(người/km²) 1.894 2.870 2.096 6.942 986 1.126 1.954
Đây là quận có ít dân số nhất trong các đơn vị hành chính quận của thành phố.

Lịch sử
Nguồn gốc tên gọi
Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang, có con cá sấu rất lớn dạt vào đây, răng của nó cắm vào miệng đất này. Tuy nhiên, trong cuốn Tự vị tiếng nói miền Nam của Vương Hồng Sển cho biết: Cái Răng có nguồn gốc từ chữ Khmer “karan” nghĩa là “cà ràng” (ông táo). Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn) làm rất nhiều karan đi bán khắp nơi. Lâu dần, mọi người phát âm karan thành Cái Răng.

             

Cập nhật những mẫu áo đấu đẹp nhất tại Quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ

     

Địa lý
Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, và là thành phố nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm cách thủ đô Hà Nội 1.877 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau hơn 150 km, cách thành phố Rạch Giá gần 120 km, cách biển Đông 75 km theo đường nam sông Hậu (quốc lộ 91C), Cần Thơ có tọa độ địa lý 105°13’38″ – 105°50’35″ kinh độ Đông và 9°55’08″ – 10°19’38″ vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu, có vị trí địa lý:

Phía Bắc giáp tỉnh An Giang
Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long
Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang
Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang.[10][11]
Diện tích nội thành là 53 km². Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng và dân số vào khoảng 1.400.200 người, mật độ dân số tính đến 2015 là 995 người/km². Cần Thơ là thành phố trực thuộc trung ương lớn thứ 4 của cả nước về diện tích và dân số, lớn thứ 5 về kinh tế, cũng là thành phố hiện đại và lớn nhất của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông.[10
Lịch sử
Bài chi tiết: Lịch sử hành chính Cần Thơ
Thời phong kiến
Vào năm Mậu Tý 1708, ông Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Vùng Cần Thơ lúc ấy vẫn chưa được tổ chức thành một đơn vị hành chính của Hà Tiên.

Sau khi Mạc Cửu mất vào năm Ất Mão (1735), Mạc Thiên Tứ nối nghiệp cha, khai phá thêm vùng hữu ngạn sông Hậu. Năm Kỷ Mùi 1739, Mạc Thiên Tứ thành lập thêm 4 vùng đất mới ở phía hữu ngạn sông Hậu để sáp nhập vào đất Hà Tiên: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bắc Bạc Liêu).

Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai mở và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang, do Mạc Thiên Tích có công khai phá cùng thời với đất Cà Mau, Rạch Giá và Bắc Bạc Liêu. Sau đó cùng sáp nhập vào đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã sớm nhận thấy vị trí chiến lược của Trấn Giang – là hậu cứ vững chắc cho Hà Tiên trong việc chống lại quân Xiêm và quân Chân Lạp – nên đã tập trung xây dựng nơi đây thành Thủ sở với các thế mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và văn hoá.

     

Cập nhật những mẫu áo đấu đẹp nhất tại Huyện Giang Thành Tỉnh Kiên Giang

       

Địa lý
Huyện Giang Thành nằm ở phía tây bắc tỉnh Kiên Giang, có vị trí địa lý:

Phía đông giáp huyện Hòn Đất và huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Phía tây và phía bắc giáp Campuchia
Phía nam giáp thành phố Hà Tiên và huyện Kiên Lương.
Huyện Giang Thành có diện tích 407,44 km², dân số năm 2019 là 29.215 người[2], mật độ dân số đạt 86 người/km².

Huyện Giang Thành có đường biên giới với Campuchia về phía bắc và tây bắc, có cửa khẩu Giang Thành.

Hành chính
Huyện Giang Thành có 5 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 5 xã: Phú Lợi, Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa (huyện lỵ), Vĩnh Điều, Vĩnh Phú.

Lịch sử
Thời Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, Giang Thành là tên một quận thuộc tỉnh Hà Tiên.

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định giải thể tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào tỉnh Kiên Giang vừa mới thành lập. Lúc này, quận Giang Thành cũng bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn quận Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang.

Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho thành lập quận Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang. Quận Kiên Lương gồm 5 xã tách từ quận Kiên Thành và quận Hà Tiên trước đó.

Năm 1957, chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng quyết định giải thể tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Rạch Giá. Khi đó, quận Giang Thành cũng bị giải thể và sáp nhập vào địa bàn huyện Hà Tiên, tỉnh Rạch Giá.

   

Những mẫu áo đấu hót nhất hiện nay tại Huyện U Minh Thượng Tỉnh Kiên Giang

   

Địa lý
Huyện U Minh Thượng nằm ở phía tây nam tỉnh Kiên Giang, có vị trí địa lý:

Phía đông giáp huyện Vĩnh Thuận
Phía tây giáp các huyện An Biên, An Minh
Phía bắc giáp huyện Gò Quao
Phía nam giáp huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Huyện có diện tích 432,70 km², dân số năm 2019 là 63.415 người[1], mật độ dân số đạt 147 người/km².

Địa hình
Huyện U Minh Thượng có rừng ngập nước, đồng ruộng, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, thuận lợi cho giao thông đường thuỷ và phát triển nông nghiệp, thuỷ hải sản.

Hành chính
Huyện U Minh Thượng có 6 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 6 xã: An Minh Bắc, Hòa Chánh, Minh Thuận, Thạnh Yên (huyện lỵ), Thạnh Yên A, Vĩnh Hòa.

Lịch sử
Vùng U Minh Thượng trước đây gồm 3 huyện An Minh, An Biên và Vĩnh Thuận là căn cứ cách mạng trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và có lúc là căn cứ của nghĩa quân Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Kiệt và một số đồng chí lão thành Cách mạng xây dựng lại cơ sở, gây dựng lại phong trào. Và từ đó, U Minh Thượng là căn cứ Cách mạng của Liên Tỉnh ủy Cần Thơ, sau đó là Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, đồng thời là nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nơi đây là căn cứ của Quân khu 9, Xứ ủy, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. U Minh Thượng có kinh xáng Chắc Băng là trung tâm khu tập kết 200 ngày thi hành Hiệp định Giơnevơ của miền Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, U Minh Thượng là căn cứ của Khu ủy, Quân khu 9, Tỉnh ủy Rạch Giá từ 1954 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Khu căn cứ U Minh Thượng đã được công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

       

Những mẫu áo đấu đang bán chạy nhất thị trường tại Huyện Kiên Hải Tỉnh Kiên Giang

   

Địa lý
Huyện Kiên Hải nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam.

Huyện Kiên Hải có diện tích 30 km², dân số năm 2019 là 17.588 người[2], mật độ dân số đạt 586 người/km².

Hòn Tre là trung tâm hành chính của huyện, cách thành phố Rạch Giá 30 km với khoảng 1 giờ ngồi tàu cao tốc và 2 giờ ngồi tàu gỗ. Xã có diện tích nhỏ nhất, chỉ rộng khoảng 4 km², đỉnh cao nhất là 395 m. Số dân trên 4 ngàn người, họ sinh sống bằng nghề làm vườn, đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản. Hòn Tre có nhiều nơi phong cảnh rất hữu tình như Bãi Chén, Động Dừa, Đuôi Hà Bá,… Trong tương lai Hòn Tre sẽ trở thành khu du lịch sinh thái mới của tỉnh Kiên Giang.

Người dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nghề biển. Các đảo của huyện Kiên Hải vẫn còn sơ khai, nhiều phong cảnh đẹp mang đậm nét thiên nhiên.

Năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang bao gồm cả huyện này được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hành chính
Huyện Kiên Hải có 4 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 4 xã: An Sơn, Hòn Tre (huyện lỵ), Lại Sơn, Nam Du.

Lịch sử
Cuối năm 1982, trước yêu cầu an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế biển đảo, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang nhận thấy vùng biển Kiên Giang rất rộng lớn, nhiều đảo cách đất liền rất xa, có đảo hơn 100 km, rất khó cho công tác quản lý, cũng như chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên vùng biển đảo, nên Tỉnh quyết định đề nghị Chỉnh phủ cho thành lập huyện mới, lấy tên là huyện Kiên Hải (Kiên là chữ đầu Kiên Giang, Hải là biển).

             

Những mẫu áo đấu tự thiết kế đẹp nhất tại Thành phố Hà Tiên Tỉnh Kiên Giang

     

Địa lý
Thành phố Hà Tiên nằm ở phía tây tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá 88 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km, có vị trí địa lý:

Phía bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 13,7 km
Phía đông giáp huyện Giang Thành
Phía nam giáp huyện Kiên Lương
Phía tây giáp với Vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 26 km.
Thành phố có diện tích 100,49 km², dân số năm 2021 là 50964 người[4], mật độ dân số đạt 507 người/km².
Lịch sử
Xem thêm: Hà Tiên (tỉnh)

Tổng trấn Mạc Cửu, người có công mở cõi Hà Tiên.
Thời phong kiến
Hà Tiên là tên gọi đã có từ xa xưa, qua từng thời kỳ, địa giới thay đổi từ vùng thành trấn, chuyển sang tỉnh, đổi thành quận, huyện, thị xã và bây giờ là thành phố. Giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu đến đây khai phá thì vùng đất này vẫn còn hoang sơ, vắng vẻ. Cuối thế kỷ trên, thì Hà Tiên đã trở thành một thương cảng sầm uất.

Năm 1708, khi Mạc Cửu dâng đất lên cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn dùng hai chữ Hà Tiên để đặt tên cho cả vùng đất bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang và một số vùng lân cận ngày nay.

Khi Gia Long lên ngôi, Hà Tiên được đặt thành trấn của Nam Kỳ, trong trấn có huyện Hà Tiên. Năm 1825, để không trùng tên với trấn, vua Minh Mạng đổi huyện Hà Tiên thành huyện Hà Châu. Năm 1832, vua Minh Mạng lại đổi trấn Hà Tiên thành tỉnh Hà Tiên.

       

Những mẫu áo đấu tự thiết kế đẹp nhất tại Huyện Tịnh Biên Tỉnh An Giang

       

Địa lý
Vị trí địa lý
Huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện miền núi của tỉnh An Giang, nằm về phía tây bắc của tỉnh và kéo dài từ 10026’15”B đến 10040’30”B, 104054’Đ đến 10507’, cách thành phố Long Xuyên 70km, cách thành phố Châu Đốc 8km, cách thành phố Hồ Chí Minh 255km và cách thành phố Cần Thơ 130km. Huyện Tịnh Biên có vị trí địa lý:

Phía bắc và tây bắc giáp huyện Kiri Vong, tỉnh Takéo, Campuchia
Phía nam và tây nam giáp huyện Tri Tôn
Phía đông giáp thành phố Châu Đốc và huyện Châu Phú.
Huyện Tịnh Biên có diện tích tự nhiên 354,73 km2, chiếm 10,03% so với tổng diện tích toàn tỉnh. Huyện Tịnh Biên có 29.978 hộ dân với 121.399 người, trong đó dân tộc Kinh 85.328 người, dân tộc Khmer 35.696 người và dân tộc Hoa 375 người[1]. Huyện Tịnh Biên có dân số người Khmer tương đối lớn, tập trung nhiều ở những xã An Cư, Tân Lợi, An Hảo, Văn Giáo, Vĩnh Trung…
Lịch sử
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 56-CP[2] hợp nhất huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi.

Ngày 25 tháng 04 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 181-CP[3], điều chỉnh địa giới và đổi tên một số xã và thị trấn huyện Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang:

Tách các ấp Hòa An, Bình An của xã Tà Đảnh, một phần đất của xã Tú Tề lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Lập.
Tách ấp Huệ Đức của xã Cô Tô lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Tuyến.
Tách các ấp Voi 1, Voi 2 của xã Tú Tề lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Chi Lăng.
Tách các ấp Cây Me, Xoài Tòng A, Xoài Tông B, Cơray Ven và một phần các ấp kinh Ô Bà Lẫy của xã Tri Tôn lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Bảy Núi.
Xã Tri Tôn đổi tên thành xã Núi Tô.
Xã Ô Lâm đổi tên thành xã An Phước
Xã An Tức đổi tên thành xã An Ninh
Xã Châu Lăng đổi tên thành xã An Lạc.
Xã Lê Trì đổi tên thành xã An Lập
Xã Tà Đảnh đổi tên thành xã Tân Cương
Xã Lương Phi đổi tên thành xã An Thành
Xã Trác Quan đổi tên thành xã An Hảo
Xã Văn Giáo đổi tên thành xã Thới Thuận
Xã Tú Tề đổi tên thành xã Tân Lợi

           

Những mẫu áo đấu không logo đẹp nhất tại Huyện An Phú Tỉnh An Giang

       

Vị trí địa lý
Phía Tây và Bắc giáp huyện Bourei Cholsar (tỉnh Takeo) và Kaoh Thum (tỉnh Kandal) của Campuchia, đường biên giới dài khoảng 40,5 km.
Phía Đông giáp thị xã Tân Châu.
Phía Nam giáp ngã ba sông Hậu ở thành phố Châu Đốc.
ịch sử
Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (khu vực nằm giữ sông Tiền và sông Hậu) cho chúa Nguyễn. Trong vùng Tầm Phong Long, đất An Phú là khu vực gần nhất, hướng về trung tâm lãnh thổ Chân Lạp.

Năm 1823, khi đào kênh Vĩnh Tế, Thoại Ngọc Hầu đã lập các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hậu, Vĩnh Trường, Vĩnh Hội Đông.

Năm 1824, ông Nguyễn Văn Luật đứng đầu nhóm thợ săn khai phá làng Vĩnh Hội kế bên làng Vĩnh Ngươn.

Năm 1825, Thoại Ngọc Hầu cho đắp con đường từ Châu Đốc lên Lò Gò – Sóc Vinh nối các làng với nhau rất tiện lợi trong việc đi lại cho nhân dân[8].

Bản đồ Nam Kỳ năm 1878. Có thể thấy rõ địa danh một số làng ở An Phú như Lý Nhơn (nay là Prek Chrey), Bắc Nam (nay là Prek Chrey), Benghi (Bình Di), Khánh Hội, Khánh Bình, Vĩnh Hội, Đa Phước.
Vào năm 1832, khi tỉnh An Giang ra đời thì đất An Phú thuộc về tổng Châu Phú, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên – một trong hai phủ của tỉnh An Giang lúc bấy giờ. Cũng trong năm này, đình thần Đa Phước được khỏi công xây dựng bằng vật liệu đơn sơ.

       

Những mẫu áo đấu khoo9ng logo đẹp nhất 2022 tại Thành phố Long Xuyên Thành phố Long Xuyên

     

Địa lý
Thành phố Long Xuyên cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 185 km về phía tây nam, thành phố Cần Thơ khoảng 60 km về phía tây bắc và cách biên giới Campuchia 55 km. Thành phố nằm bên bờ sông Hậu và có vị trí địa lý:

Phía đông giáp huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp qua một đoạn nhỏ sông Hậu và huyện Chợ Mới
Phía tây giáp huyện Thoại Sơn
Phía nam giáp quận Thốt Nốt và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
Phía bắc giáp huyện Châu Thành.
Thành phố có diện tích 114,96 km², dân số năm 2019 là 272.365 người, mật độ dân số đạt 2.369 người/km².[2]

Thành phố Long Xuyên có diện tích nội thành là 24,4 km², chiếm khoảng 19,08% diện tích đất tự nhiên thành phố. Là một trong những trung tâm đô thị lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Cụ thể, tại Quyết định số 1078/QĐ-TTg,Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký công nhận thành phố Long Xuyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh An Giang vào năm 2020

Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang có vị trí chiến lược, là điểm giao thoa giữa 2 khu vực năng động của vùng đô thị trung tâm và tứ giác Long Xuyên. Thành phố đồng thời nằm trong trung tâm của vùng tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Phnom Penh (Campuchia).

Các công trình phục vụ công cộng và cơ sở kỹ thuật hạ tầng đô thị được đầu tư, xây dựng đồng bộ, ngày càng hoàn thiện trên nhiều lĩnh vực. Nhiều dự án trọng điểm được triển khai và đẩy nhanh tiến độ thực hiện, thu hút các tập đoàn lớn như T&T, FLC, TMS,…

Hành chính
Thành phố Long Xuyên có 13 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 11 phường: Bình Đức, Bình Khánh, Đông Xuyên, Mỹ Bình, Mỹ Hòa, Mỹ Long, Mỹ Phước, Mỹ Quý, Mỹ Thạnh, Mỹ Thới, Mỹ Xuyên và 2 xã: Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Khánh.

Lịch sử